XD05BTL - Những năm tháng ở giảng đường BKU
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Môi trường nông thôn: Thảm họa đã đến...

Go down

default Môi trường nông thôn: Thảm họa đã đến...

Bài gửi by hitman17528 Sat Apr 05, 2008 12:26 pm

Môi trường nông thôn: Thảm họa đã đến... 05ui910

Nước
ta là một nước nông nghiệp, 74% dân số đang sống ở khu vực nông thôn và
miền núi với khoảng 20% số hộ ở mức nghèo đói. Những năm gần đây, các
hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt động dịch vụ, sinh hoạt đã
làm xuất hiện nhiều vấn đề môi trường có tính chất đan xen lẫn nhau và
ở nhiều nơi, nhiều chỗ đã và đang trở thành, bức xúc.




Những
vấn đề này gây tác động mạnh mẽ và lâu dài đến các hệ sinh thái nông
nghiệp và nông thôn. Nó hạn chế tính năng sản xuất của các thành phần
môi trường, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, cản trở sự phát triển
bền vững. Càng ngày, những vấn đề ô nhiễm môi trường càng trở nên phổ
biến rộng rãi, len lỏi trong mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt thường
nhật của người dân nông thôn. Và quan trọng nhất, hiện trạng trên tác
động xấu đến sức khoẻ cộng đồng nông thôn và hậu quả là lâu dài, không
những đối với thế hệ hiện tại mà cả thế hệ mai sau.




Kinh hoàng ô nhiễm môi trường nông thôn Việt Nam

Vấn đề đầu tiên phải kể đến về hiện tượng môi trường sống của người dân ở các vùng nông thôn Việt Nam
đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước sạch và vệ sinh môi trường (VSMT)
nông thôn. Nếu như chúng ta quan niệm nước sạch chỉ đơn giản là nước
mưa, nước giếng khoan qua xử lý bằng bể lọc đơn giản chứ không phải
nước sạch như đã được xử lý ở các thành phố lớn thì tỷ lệ người dân
nông thôn, nhất là khu vực miền núi còn rất thấp.


Chúng ta có thể thấy rõ, những người dân ở nông thôn Việt Nam
đang phải sinh hoạt với những nguồn nước như thế nào. Ở vùng Đồng bằng
sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ cao nhất cũng chỉ 39% dân số được sử dụng
nguồn nước (tạm coi là) sạch. Còn vùng thấp nhất là vùng núi phía Bắc,
chỉ có 15% dân số được cấp nước sạch. Tình trạng ô nhiễm môi trường
nước tác động trực tiếp đến sức khoẻ, là nguyên nhân gây các bệnh như
tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán...Các bệnh này gây suy dinh dưỡng,
thiếu máu, thiếu sắt, kém phát triển gây tử vong nhất là ở trẻ em. Có
đến 88% trường hợp bệnh tiêu chảy là do thiếu nước sạch, VSMT kém . Có
thể thấy, nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường và nguồn
nước ở nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau:


Đầu
tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân
bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan và không có kiểm
soát. Nhìn chung, lượng phân bón hoá học ở nước ta sử dụng còn ở mức
trung bình cho 1 ha gieo trồng, bình quân 80 - 90 kg/ha (cho lúa là 150
- 180kg/ha), so với Hà Lan 758 kg/ha, Nhật 430kg/ha, Hàn Quốc -
467kg/ha, Trung Quốc - 390 kg/ha. Tuy nhiên việc sử dụng này lại gây
sức ép đến MT nông nghiệp và nông thôn với 3 lý do: Sử dụng không đúng
kỹ thuật nên hiệu lực phân bón thấp; Bón phân không cân đối, nặng về sử
dụng phân đạm; Chất lượng phân bón không đảm bảo, các loại phân bón N -
P - K, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi
nổi trên thị trường không đảm bảo chất lượng đăng ký, nhãn mác bao bì
nhái, đóng gói không đúng khối lượng đang là những áp lực chính cho
nông dân và môi trường đất.


Ngoài ra, ở miền Bắc Việt Nam
còn tồn tại tập quán sử dụng phân bắc, phân chuồng tươi vào canh tác. Ở
ĐBSCL, phân tươi được coi là nguồn thức ăn cho cá, gây ô nhiễm môi
trường đất, nước và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Thuốc bảo vệ thực
vạt (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc trừ chuột; thuốc
trừ bệnh; thuốc trừ cỏ. Các loại này có đặc điểm là rất độc đối với mọi
sinh vật; Tồn dư lâu dài trong môi trường đất - nước gây ra ô nhiễm;
Tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh
vật có hại và có lợi trong môi trường đất, nước.


Hiện
nay, nước ta chưa sản xuất được nguyên liệu thuốc BVTV mà phải nhập
khẩu để gia công hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm bao gói lớn để sang
chai đóng gói nhỏ tại các nhà máy trong nước. Đặc biệt ở rau xanh, sâu
bệnh có thể làm tổn thất trung bình từ 10 - 40% sản lượng nên đầu tư
cho thuốc BVTV sẽ mang lại lợi nhuận trên 5 lần. Chính vì vậy, lượng
thuốc BVTV sử dụng cho rau thường quá mức cho phép. Điều này dẫn đến ô
nhiễm đất, nước. Từ môi trường đất, nước và nông sản, thuốc BVTV sẽ xâm
nhập vào cơ thể con người và tích tụ lâu dài gây các bệnh như ung thư,
tổn thương về di truyền. Trẻ em nhạy cảm với thuốc BVTV cao hơn người
lớn gấp 10 lần. Đặc biệt thuốc BVTV làm cho trẻ thiếu ôxi trong máu,
suy dinh dưỡng, giảm chỉ số thông minh, chậm biết đọc, biết viết.


Điều
đáng quan tâm là tình hình ngộ độc thực phẩm do các hoá chất độc, trong
đó có thuốc BVTV vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng không
chỉ riêng ở nông thôn mà còn cả ở các thành phố lớn có sử dụng nông sản
có nguồn gốc từ nông thôn. Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quản
lý thuốc BVTV còn nhiều bất cập và gặp nhiều khó khăn. Hàng năm khoảng
10% khối lượng thuốc được nhập lậu theo đường tiểu ngạch. Số này rất đa
dạng về chủng loại, chất lượng không đảm bảo và vẫn lưu hành trên thị
trường. Thứ hai là việc sử dụng còn tuỳ tiện, không tuân thủ các yêu
cầu kỹ thuật theo nhãn mác, không đảm bảo thời gian cách ly của từng
loại thuốc. Thứ ba là do một lượng lớn thuốc BVTV tồn đọng tại các kho
thuốc cũ, hết niên hạn sử dụng còn nằm rải rác tại các tỉnh thành trên
cả nước. Theo Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường, Bộ Tư lệnh Hoá học
(2004), trong khoảng hơn 300 tấn thuốc BVTV tồn đọng có nhiều chất nằm
trong số 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ. Và cuối cùng là việc bảo
quản thuốc BVTV còn rất tuỳ tiện, không có nơi bảo quản riêng, nhiều hộ
để thuốc BVTV trong nhà, trong bếp và trong chuồng nuôi gia súc.


Nguyên
nhân thứ hai gây ra ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất thải rắn
từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện cả nước có khoảng
1.450 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh thành và đông đúc nhất là khu vực
đồng bằng sông Hồng, vốn là cái nôi của làng nghề truyền thống, với
tổng số 472 làng nghề các loại, tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà
Tây, Thái Bình và Bắc Ninh,... Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ,
trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn
(trên 70%). Do đó, đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nông
thôn, tác động xấu tới chất lượng môi trường đất, nước, không khí và
sức khoẻ của dân làng nghề. Kết quả phân tích chất lượng nước thải một
số làng nghề dệt nhuộm tại Thái Bình cho thấy, đa số các chỉ tiêu phân
tích đều vượt tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt BOD5, COD đều vượt tiêu
chuẩn từ 2 - 5 lần.


Ô
nhiễm không khí: Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là
than. Do đó, lượng bụi và các khí CO; CO2; SO2 và NOx thải ra trong quá
trình sản xuất trong nhiều làng nghề khá cao. Theo kết quả điều tra tại
các làng nghề sản xuất gạch đỏ (Khai Thái - Hà Tây); vôi (Xuân Quan -
Hưng Yên) hàng năm sử dụng khoảng 6.000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò;
250 tấn bùn; 10m3 đá sinh ra nhiều loại bụi, SO2; CO2, CO; NOx, và
nhiều loại chất thải nguy hại khác, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ người
dân trong khu vực và làm ảnh hưởng tới hoa màu, sản lượng cây trồng của
nhiều vùng lân cận. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các
vụ xung đột, khiếu kiện như ở Thái Bình, Bắc Ninh và Hưng Yên…


Ô
nhiễm môi trường đất chủ yếu tập trung ở các làng nghề tái chế kim
loại. Kết quả nghiên cứu của Đề tài KC.08.06 cho thấy, một số mẫu đất ở
làng nghề tái chế chì thuộc xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, Hưng Yên cho
thấy, hàm lượng Cu2+ đạt từ 43,68 - 69,68 ppm; hàm lượng Pb2+ từ 147,06
- 661,2 ppm . Hàm lượng các kim loại nặng trong nước cũng rất cao, vượt
nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép.


Bên
cạnh đó có khoảng 3.600 chợ nông thôn, trung bình mỗi người mỗi ngày
thải ra 0,4 - 0,5 kg chất thải. Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng
các xe cải tiến nên mới thu gom được khoảng 30% chuyên chở về những nơi
tập trung rác. Bãi rác tại các huyện, các chợ nông thôn chưa có cơ quan
quản lý và biện pháp xử lý. Chủ yếu là tập trung để phân huỷ tự nhiên
và gây nên những gánh nặng cho công tác bảo vệ môi trường.


Thời gian gần đây, vùng nông thôn Việt Nam
còn chịu ảnh hưởng nặng nề từ ngồn rác, nước và khí thải xả ra từ các
khu công nghiệp trên cả nước. Chính nguồn rác, nước và khí thải này
cũng đang phá hủy nghiêm trọng sự trong lành của môi trường nông thôn
Việt Nam.




Cứu môi trường nông thôn: Bất lực?

Chúng ta đang phải chứng kiến sức tàn phá ghê gớm của ô nhiễm môi trường tới không chỉ cảnh quan nông thôn Việt Nam
mà còn đối với sức khỏe của chính những người dân. Hãy nhìn những làng
quê đang bóc đi cái vẻ hồn hậu, chất phác vốn có để khoác lên mình tấm
áo kệch cỡm của một tên trọc phú. Và bên trong cái vẻ béo tốt giả tạo
ấy chính là sự kiệt quệ của những vùng quê đang bị bóc lột, bòn rút đến
những giọt máu cuối cùng. Hậu quả của nó thì đã nhỡn tiền: Ô nhiễm đổ
lên những cánh đồng, những dòng sông quê còn bệnh tật đang đổ lên đầu
những người dân nông thôn. Còn họ, những người nông dân thì chỉ biết
đứng nhìn.


Tài
nguyên đất ở các vùng nông thôn vẫn đang tiếp tục bị suy thoái trầm
trọng, làm biến đổi các tính chất đất và không còn tính năng sản xuất.
Các loại hình thoái hoá đất chủ đạo ở nước ta là: Xói mòn, rửa trôi,
sạt và trượt lở đất; suy thoái vật lý (mất cấu trúc, đất bị chặt, bí,
thấm nước kém); suy thoái hoá học (mặn hoá, chua hoá, phèn hoá); mất
chất dinh dưỡng khoáng và chất hữu cơ; đất bị chua; xuất hiện nhiều độc
tố hại cây trồng như Fe3+, Al3+ và Mn2+; hoang mạc hoá; ô nhiễm đất cục
bộ do chất độc hóa học, khu công nghiệp và làng nghề; suy thoái và ô
nhiễm đất ở khu khai thác mỏ.


Nguồn
tài nguyên nước đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hàng loạt những dòng sông
quê kêu cứu vì mức độ ô nhiễm đã gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn cho
phép. Những nguồn nước ngầm cung cấp cho người dân nhiễm sắt, nhiễm
chì, nhiễm phèn, nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và vô vàn loại chất độc
hóa học do các khu công nghiệp, các làng nghề thải ra vào lòng đất. Ở
những dòng sông, những ao hồ ở các vùng quê, những loài vật thủy sinh
như tôm, cua, cá, ốc ếch và thậm chí ngay một loài sống dai như đỉa thì
đến bây giờ, chỉ còn thấy lại trong kí ức của những già ở các vùng thôn
quê.


Trên
khắp các vùng nông thôn mọc lên những làng ung thư, làng bệnh tật.
Những thứ bệnh “nan y” vốn dĩ chỉ có những người lười vận động, phải
chịu nhiều chất độc hại mà thường chỉ ở các thành phố mới mắc phải thì
nay trút xuống vai những người nông dân nhọc nhằn, nghèo khó. Không
hiếm những người nông dân phải bán cả gia sản để về thành phố chữa chạy
và cũng không ít những người khác phải ngậm ngùi chờ chết vì không có
tiền để chống lại những căn bệnh tử thần.


Đã
nhiều năm nay, báo chí nói nhiều đến việc ô nhiễm môi trường ở nông
thôn, những hiểm họa từ ô nhiễm môi trường mà những người nông dân đang
phải gánh chịu nhưng thực tế, không ai làm gì để giải quyết tình trạng
đó. Chúng không giảm đi, mà càng ngày càng tăng lên với mức độ nghiêm
trọng hơn rất nhiều lần.


Chúng
ta hãy tự hỏi, chúng ta đang bất lực trước những hiện trạng này hay
chúng ta thờ ơ đứng nhìn nó. Chúng ta phảỉ làm gì khi nghĩ về những
người nông dân, hơn 70% dân số của chúng ta đang phải đối mặt?.

_________________
I am happy because I am working for the best
Not too late if you want to do something for everyone,but too late for yourself
hitman17528
hitman17528
Quản lý forum
Quản lý forum

Nam
Tổng số bài gửi : 447
Age : 34
Đến từ : HCMUT,K2005 WRE Class
Nghề nghiệp : Student
Registration date : 21/01/2008

http://360.yahoo.com/hitman17528

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết